Tin Tức Cập Nhật

Sunday, October 10, 2010

Báo Anh đánh giá về quan hệ Mỹ-Việt trước ảnh hưởng của Trung Quốc

Thứ tư, 08 Tháng 9 2010 00:00



Những tham vọng mà Bắc Kinh đang đặt cược vào vấn đề Biển Đông đã khiến cho toàn bộ khu vực, Mỹ, đồng minh cảm thấy dường như Trung Quốc đã thực sự bước lên sân khấu tham gia cuộc chơi một cách công khai, mạnh bạo không còn “ẩn mình” như lời dạy của Đặng nữa. Tuy nhiên, điều đó lại tạo nên sự đoàn kết trong ASEAN, sự thắt chặt thêm các mối quan hệ đồng minh mà Mỹ đã thiết lập trong khu vực, thậm chí Mỹ còn tìm kiếm sự hợp tác trên tất cả các mặt với những quốc gia mà trước đây từng là cựu thù của Mỹ. Sự đoàn kết, liên minh, hợp tác đều với mục đích: cân bằng và kiềm chế những tham vọng thái quá của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Đề cập đến vấn đề này, trên tờ Guardian ngày 31/8 có đăng bài "Vietnam, unlikely US all" của tác giá Mark Tran, cựu phóng viên thường trú của báo này tại Mỹ (1984-1999). Sau đây là nội dung bài viết.

Tác giả cho rằng, Mỹ ngày càng tự mình gắn kết với kẻ thù cũ là Việt Nam nhằm đối phó với việc Trung Quốc khẳng định quyền bá chủ khu vực. Sự có mặt của tàu USS George Washington ngoài khơi bờ biển Việt Nam hồi đầu tháng 8 đã cho thấy việc nối lại tình hữu nghị ngày càng đậm sâu giữa hai cựu thù trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng hiếu chiến.

Sau 35 năm kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, chuyến thăm này đánh dấu kỷ niệm 15 năm bình thường hoá quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam. Tuy nhiên, chuyến thăm của tàu USS George Washington cũng gửi tới Trung Quốc một thông điệp chính trị rõ ràng, đó là Mỹ cũng có lợi ích tại nơi mà Trung Quốc coi là sân sau của mình. Chỉ vài ngày sau đó, Đô đốc Robert Willard, người đứng đầu Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ, đã đề cập tới những lợi ích đó trong chuyến thăm Philíppin. Ông Robert Willard nói với các phóng viên rằng quân đội Mỹ phản đối việc sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp trên biển Biển Đông.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với toàn bộ diện tích 3,5km2 Biển Đông trong đó có các quần đảo tranh chấp mà Việt Nam, Đài Loan, Malaixia, Brunây và Philíppin cũng tuyên bố chủ quyền. Quân đội Trung Quốc đã chiếm các hòn đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam năm 1974 và đánh chìm tàu hải quân của Việt Nam trong cuộc chiến trên biển năm 1988. Gần đây hơn, Trung Quốc đã bắt giữ các ngư dân của Việt Nam, đe doạ các công ty dầu khí đa quốc gia hoạt động trên vùng nước của Việt Nam, tăng cường tập trận hải quân và thiết lập một căn cứ tàu ngầm tại đảo Hải Nam. Hiện nay quần đảo Trường Sa cũng đang bị tranh chấp. Khu vực này có các tuyến đường biển náo nhiệt và Trung Quốc cho rằng khu vực này có trữ lượng khí tự nhiên và dầu mỏ khoảng 17,7 tỷ tấn.

Trung Quốc đã đặt cược vào Biển Đông khi gần đây tuyên bố Biển Đông là "lợi ích cốt lõi" của nước này, ngang hàng với tuyên bố của nước này về Đài Loan và Tây Tạng. Những bình luận của ông Willard cũng đã củng cố những tuyên bố mà Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đưa ra hồi tháng 7 đã làm Trung Quốc khó chịu. Bà Clinton tuyên bố rằng Mỹ có "lợi ích chiến lược" trong việc chứng kiến các tranh chấp lãnh thổ được giải quyết thông qua "tiến trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên tuyên bố chủ quyền". Sự hiếu chiến của Trung Quốc đã đẩy Mỹ và Việt Nam xích lại gần nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự. Mỹ và Việt Nam đã tổ chức đối thoại chính sách quốc phòng đầu tiên tại Hà Nội ngày 19/8 và được đánh giá là một điểm bước ngoặt trong các mối quan hệ giữa hai cựu thù. Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Ôxtrâylia nhận định: "Sự hiếu chiến về quân sự của Trung Quốc tại Tây Thái Bình Dương và Biển Đông tạo ra một động lực để tăng cường hợp tác quân sự Mỹ-Việt. Cả hai nước có lợi ích chung trong việc ngăn chặn Trung Quốc hay bất kỳ nước nào thống trị các tuyến đường biển thương mại cũng như thực thi tuyên bố chủ quyền bằng áp lực. Việt Nam coi sự hiện diện của Mỹ như hàng rào chống lại sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc".

Kế tiếp sau đối thoại quốc phòng, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates dự kiến sẽ thăm Việt Nam vào tháng 10/2010. Đây sẽ là cuộc gặp gỡ lần thứ 4 của ông Gates với các đối tác Việt Nam chỉ trong 2 năm và dự kiến 2 nước sẽ tổ chức các cuộc đàm phán quân sự (military-to-military talks) vào cuối năm 2010. Theo giáo sư Thayer, việc bán vũ khí, thiết bị và công nghệ quân sự vào thời điểm này chưa thể diễn ra song nhiều khả năng Việt Nam sẽ dỡ bỏ những hạn chế tự đặt ra trước đây và cho phép các quan chức quân sự của mình tham gia các khoá học, huấn luyện chuyên về quân sự tại các trường và các học viện quân sự của Mỹ. Trong quan hệ Mỹ-Việt hiện không chỉ có sự tăng cường trong hợp tác quân sự. Mới đây, báo chí đưa tin Mỹ đang đàm phán một thoả thuận gây tranh cãi với Việt Nam, theo đó Mỹ sẽ cung cấp công nghệ và nhiên liệu hạt nhân cho Việt Nam.


Các quan chức Việt Nam nhấn mạnh rằng hợp tác Mỹ-Việt "không phương hại tới bất kỳ một nước nào khác", và Trung Quốc, cho tới nay, vẫn chưa dùng thứ ngôn ngữ mà nước này luôn nhằm vào Mỹ đối với Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ nhận thức được rõ ràng là sự kiên nhẫn của Trung Quốc cũng có giới hạn. Chuyên gia nghiên cứu về châu Á Kerry Brown của Viện Hoàng gia các vấn đề quốc tế Anh nhận định: "Việt Nam đang noi gương Trung Quốc trong việc xây dựng các liên minh ngoại giao của mình. Có một quan hệ mạnh mẽ hơn với Mỹ sẽ buộc Trung Quốc phải tính toán, bất kể nước này sẽ có những hành động khẳng định mình tại khu vực như thế nào. Trung Quốc hiện nhận thức rằng Mỹ đã đưa ra một quan điểm về vấn đề tổng thể này, và điều đó có nghĩa là Trung Quốc sẽ không thể sống trong một thế giới vô tâm tự hài lòng bấy lâu nay nữa. Vấn đề mấu chốt giờ đây là bất kỳ một hành động nào của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ trở nên nhạy cảm hơn và sẽ tác động tới mối quan hệ của nước này với Mỹ. Việt Nam giờ đây có thể khai thác điểm này. Và đây chính là những gì mà Việt Nam dự tính sẽ làm"./.

Biển Đông của 15 năm sau




Trung Quốc thực sự cần một ý thức hệ mới, cởi mở hơn cho nền ngoại giao, để làm thế nào dành được ưu thế về đạo nghĩa trong bối cảnh phải đồng thời một lúc đối phó với mấy đối thủ, làm thế nào để phục vụ cho lợi ích của mình được tốt hơn. Bàn về vấn đề này, trên tờ Liên hợp buổi sáng số ra ngày 26/8 của Singapore đăng bài của Tiết Dũng, Phó Giáo sư Khoa Sử trường Đại học Suffolk Boston Mỹ nói về tương lai của Biển Đông sau 15 năm nữa và phân tích về ý thức hệ của nền ngoại giao hiện đại của Trung Quốc với tiêu đề “Biển Đông của 15 năm sau”. Nội dung như sau.







Gần đây, hai bên Trung - Mỹ luôn miệng gươm lưỡi súng, sặc mùi bom đạn quanh vấn đề Biển Đông, nhưng xem ra đây là một cuộc cạnh tranh “sức mạnh mềm” theo kiểu “võ mồm chứ không võ lực”. Obama thừa kế từ TTh Bush 2 cuộc chiến Afghanistan, Iraq và cuộc “đại suy thoái” mang tính toàn cầu. Một nền kinh tế không có gì là khởi sắc, thâm hụt liên bang tăng cao, quốc lực giảm sút. Chính quyền Obama với phương châm ngoại giao là “sức mạnh mềm” đương nhiên sẽ không lựa chọn thời khắc này để sinh sự, sinh thù. Thế nhưng, Mỹ bắt buộc phải suy tính cho tương lai, phải dàn xếp thế nào để tiếp tục thống trị thế giới sau khi có lại thực lực. Có lẽ đây chính là nguyên nhân Mỹ luôn phải đánh tiếng về vấn đề Biển Đông.



Muốn tìm hiểu ý nghĩa của Biển Đông đối với Mỹ, chúng ta phải mở rộng tầm nhìn cho 15 năm sau. Năm 2025, Biển Đông rất có khả năng sẽ thành trung tâm ngành chế tạo của thế giới hoặc “ao nhà” của “Công xưởng của thế giới”. “Công xưởng của thế giới” ở đây hoàn toàn không có ý ám chỉ Trung Quốc. Khi đó, dân số Indonesia sẽ khoảng 270 triệu người, dân số Việt Nam và Philippines đều khoảng trên 100 triệu. Đi sang phía Tây một chút, dân số Ấn Độ sẽ là khoảng 1 tỷ 350 triệu người, Bangladesh khoảng 210 triệu người, hơn nữa dân số các nước này có độ tuổi trung bình trẻ. Trung Quốc hiện nay tuy vẫn là “công xưởng của thế giới” nếu vẫn xét từ góc độ tài nguyên con người. Nhưng từ tình hình lao động của năm 2010 có thể thấy rất khó xoay chuyển xu thế cung ứng sức lao động giảm, giá thành lên cao. Sau 15 năm, “nguồn lợi con người” sẽ mất đi và sẽ càng khó khăn hơn để giữ vững vị trí như hiện nay. Do vậy, “sự lựa chọn ngoài Trung Quốc” đã trở thành chủ đề năm 2010 của ngành chế tạo. Trên thực tế, ngành chế tạo đã bắt đầu chuyển từ Trung Quốc sang những nước lạc hậu. Ví dụ: Bangladesh đã cướp mối làm ăn ngành dệt từ tay Trung Quốc. Việt Nam càng là một sự lựa chọn nữa ngoài Trung Quốc. Ấn Độ nổi tiếng là “Văn phòng của thế giới”, ngành chế tạo của Ấn Độ bị mắc kẹt giữa cơ sở hạ tầng lạc hậu và trình độ giáo dục quốc dân quá thấp, dân số Ấn Độ và Bangladesh khá trẻ, sức lao động dồi dào, giá cả thấp, có ưu thế khá lớn. Nếu trong 15 năm mà chỉnh đốn được cơ sở hạ tầng và giáo dục nghĩa vụ, định ra chính sách thương mại hợp lý thì sẽ rất có khả năng trở thành “Công xưởng của thế giới”. Quanh vùng Biển Đông, Việt Nam đã có được đà phát triển kinh tế rất mạnh mẽ, nếu Indonesia và Philippines trong 15 năm tạo được môi trường kinh tế chính trị ổn định thì đều có khả năng trỗi dậy thành “Công xưởng của thế giới”.



Có thể nói, đến năm 2025, khu vực xung quanh Biển Đông và thậm chí cả vùng Nam Á mà tuyến đường từ Biển Đông đến Bắc Mỹ bắt buộc phải đi qua đây sẽ trở thành nguồn cung cấp sức lao động chủ yếu cho ngành chế tạo của thế giới. Hiện nay, kinh tế Mỹ vẫn nhanh chóng “cổ cồn hóa”, ngành chế tạo không ngừng được đưa ra bên ngoài, sự ỷ lại vào các cơ sở sản xuất và sản phẩm công nghiệp tại hải ngoại ngày càng nghiêm trọng. Lợi ích chiến lược của Mỹ chính là giành được sự hợp tác với các nước này. Cần phải biết rằng, ngành chế tạo, nhất là ngành chế tạo hàm lượng kỹ thuật thấp, không chỉ là ngành nghề cần nhiều lao động mà cũng là ngành nghề cần nhiều tài nguyên, có nhu cầu lớn về vận chuyển, đi lại. Khi Biển Đông biến thành “ao nhà” của “Công xưởng của thế giới”, sự tranh giành tài nguyên sẽ là chất xúc tác cho các xung đột tiềm tàng tại đây. Khi đó, một nước Mỹ đã qua điều chỉnh về kết cấu năng lượng, có thể sẽ giảm bớt sự ỷ lại vào dầu mỏ nhưng mức ỷ lại vào sản phẩm ngành chế tạo sẽ tăng cao. Một khi xung đột Biển Đông leo thang, nổ ra chiến tranh, sự cung cấp sản phẩm ngành chế tạo cho nước Mỹ sẽ bị ảnh hưởng. Do vậy, Mỹ cảm nhận sâu sắc về trách nhiệm giữ gìn sự ổn định cho khu vực này.



Nói tóm lại, câu chuyện của 15 năm sau không chỉ với chủ đề “Sự trỗi dậy của Trung Quốc”. Sự trỗi dậy của các quốc gia xung quanh Biển Đông, sự chuyển dịch “Công xưởng của thế giới” đều sẽ nhào nặn lại một cục diện kinh tế thế giới mới. Mỹ không ngớt bày tỏ thái độ đối với vấn đề Biển Đông, luôn kiên trì 2 điểm: Một là tự do qua lại; hai là thương lượng nhiều bên, chủ yếu nhằm thu phục nhân tâm, đảm bảo cho sự thông suốt của tự do thương mại để nhằm giữ vững địa vị thống trị trong một cục diện mới.



Những sự thay đổi này tự nhiên hình thành lên sự thách thức mới đối với Trung Quốc. Biển Đông liên quan mật thiết tới tuyến đường dầu mỏ của Trung Quốc, là nơi có lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Ngoài ra, cùng một lúc, Trung Quốc có tranh chấp lãnh thổ với mấy nước ở Biển Đông, do vậy dễ bị cô lập. Điều này đã tạo cơ hội cho Mỹ đánh bài “sức mạnh mềm”. Chỉ cần tạo dựng nên một sự kỳ vọng cho việc “để Mỹ nắm cán cân công lý” trong khu vực này thì đã tạo ra nền tảng cho việc khuếch trương sức ảnh hưởng của Mỹ trong tương lai. Đứng trước một bố cục chiến lược như vậy, Trung Quốc lại gây lộn ngay trước cửa nhà mình thì sẽ đương đầu với một ván cờ đầy gian nan. Đương nhiên, tranh chấp lãnh thổ với một nước cụ thể thì sẽ liên quan đến rất nhiều vấn đề mang tính kỹ thuật, người ngoài cuộc khó có thể đi sâu bàn bạc. Nhìn từ góc độ lịch sử, sự chuyển đổi về ý thức hệ của nền ngoại giao Trung Quốc vẫn chưa hoàn chỉnh nên điều này sẽ gây vướng víu rất nhiều cho Trung Quốc khi ứng phó với một cục diện như vậy.



Nền ngoại giao hiện đại của Trung Quốc vẫn xây dựng trên ký ức lịch sử của việc nếm đủ mùi lăng nhục của ngoại bang. Ví dụ, mỗi khi nhắc đến “tự do qua lại” thì chủ quyền của Trung Quốc như lại chịu sự uy hiếp. Đồng thời, là một nước khép kín, tụt lùi để phòng thủ nội lực, “tự do qua lại” trên vùng biển quốc tế cũng không có giá trị thực tế đối với Trung Quốc. Đối với một nước đã nhiều lần chịu sự uy hiếp về chia cắt, vấn đề “toàn vẹn lãnh thổ” tự nhiên sẽ trở thành ý thức hệ chủ đạo của nền ngoại giao. Thế nhưng, Trung Quốc ngày nay đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, mối đe dọa bị chia cắt đã không còn. Đồng thời, nền kinh tế Trung Quốc là người thắng cuộc lớn nhất của toàn cầu hóa, từ năng lượng, nguyên liệu đến thị trường, tất cả đều dựa vào người khác. Vấn đề “tự do qua lại” trực tiếp đe dọa đến chủ quyền của Trung Quốc trong quá khứ, nay đã trở thành vấn đề lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Hay nói cách khác, hàm nghĩa về “lợi ích của Trung Quốc” đã khác trước. Ý thức hệ của nền ngoại giao cũng cần phải thay đổi để phục vụ cho “lợi ích mới của Trung Quốc”. Rốt cục, vấn đề Biển Đông không phải là vấn đề Đài Loan, không phải vấn đề di sản của thời kỳ thuộc địa hoặc nửa thuộc địa, điều mà nó liên quan trực tiếp chính là chiến lược toàn cầu hóa của Trung Quốc trong tương lai. Ở đây, “tự do qua lại” e rằng lại là vấn đề mấu chốt hơn “toàn vẹn lãnh thổ”. Điều này không có nghĩa là đòi hỏi Trung Quốc phải vứt bỏ sự kỳ kèo, mặc cả về tranh chấp lãnh thổ. Trung Quốc thực sự cần một ý thức hệ mới, cởi mở hơn cho nền ngoại giao, để làm thế nào dành được ưu thế về đạo nghĩa trong bối cảnh phải đồng thời một lúc đối phó với mấy đối thủ, làm thế nào để phục vụ cho lợi ích của mình được tốt hơn./.